Bảo quản hiện vật làm bằng gỗ trong di tích


Theo số liệu kiểm kê năm 1995, cả nước có trên 4 vạn di tích, trong đó có 2811 di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia. Phần lớn trong số 2811 di tích này là các công trình tôn giáo tín ngưỡng như đình, chùa, đền, miếu v.v..

Một đặc điểm của các di tích nói chung, di tích tôn giáo tín ngưỡng nói riêng là thường được làm bằng gỗ, trong mỗi di tích lại chứa đựng hàng chục, thậm chí hàng trăm hiện vật gỗ khác. Bảo quản, tu bổ kiến trúc gỗ và nhất là bảo quản các hiện vật làm bằng gỗ ở di tích là một công việc hết sức khó khăn đối với những người là công tác bảo tồn hiện nay.

1. Đôi nét về hiện vật làm bằng gỗ trong di tích.
            
Tượng thờ: Hiện vật gỗ phải kể tới đầu tiên là các tượng thờ. Ngôi chùa Việt nào cũng có một hệ thống tượng thờ rất phong phú, đa dạng, đa phần các tượng được làm bằng gỗ, một số ít được làm bằng đất. Trong chùa có bộ Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Hoa Nghiêm Tam Thánh, tượng Di Lặc, Quan Âm Nam Hải, tượng Thích Ca Sơ Sinh với Ngọc Hoàng và Nam Tào - Bắc Đẩu; rồi hệ thống tượng Thập Điện Diêm Vương, La Hán, Kim Cương, Thánh Tăng, Đức Ông,  tượng Tổ, tượng Mẫu...Hệ thống tượng ở đền, miếu không có nhiều như ở chùa, thường chỉ là tượng vị thần được thờ ở đền, miếu. Những tượng sớm nhất có niên đại thế kỷ 16 - 17, phổ biến hơn là các tượng có niên đại từ thế kỷ 18 trở lại đây.

Nhang án gỗ: đây là các bàn thờ, hiện vật sớm nhất được biết tới cho tới lúc này có niên đại giữa thế kỷ 17 (nhang án ở chùa Thầy, chùa Bút Tháp). Các nhang án gỗ được chạm khắc hết sức tinh xảo.

Ngai thờ và bài vị: Chiếc ngai ở chùa Nhân Trai - Hải Phòng được các nhà nghiên cứu xác định niên đại cuối thế kỷ 16 là chiếc ngai cổ nhất.

Khám thờ: chỉ có ở một số di tích, khám thường được chạm khắc rất cầu kỳ.

Sập thờ: là hiện vật có thể khối lớn và được chạm khắc rất đẹp.

- Bộ Bát bửu
: gồm 8 hiện vật là quạt vả, gươm, đàn, hòm sách, bút lông, đôi sáo, lẵng hoa, cuốn thư.

Bộ Chấp kích, Bộ Lỗ bộ: là 8 loại vũ khí làm bằng gỗ.

Các thú thờ: trong các ngôi đền thường có đôi hạc cao lớn hoặc đôi nghê đứng hai bên bàn thờ, ít nơi còn những đôi hạc còn lành lặn.

- Kiệu thờ: Hiện vật không thể thiếu khi tổ chức lễ hội tại di tích. Kiệu cũng là hiện vật được chạm khắc dày đặc các đề tài tứ linh, tứ quý.

Trên đây là một số hiện vật phổ biến thường có ở di tích, ngoài ra còn có nhiều hiện vật khác như mõ, quán tẩy, bảng văn, trống thờ, quạt thờ...Đó là chưa kể các sắc phong, các bản thần phả là những hiện vật giấy hết sức mỏng manh đã bị mất mát khá nhiều qua những thăng trầm của lịch sử.

2. Môi trường bảo quản của các hiện vật gỗ.

Khí hậu Việt Nam hết sức phức tạp và có nhiều vùng khí hậu khác nhau. Miền Bắc có hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng và ẩm ướt, mùa đông lạnh và khô. Chen vào những ngày khô lạnh của mùa đông còn có những ngày nồm, mọi thứ đều ẩm ướt. Các di tích tồn tại trong điều kiện môi trường khí hậu như vậy và dĩ nhiên các hiện vật thuộc di tích cũng cùng chung môi trường này. Gần đây, khi thực hiện việc bảo quản, tu bổ hai pho tượng ở chùa Đậu - Hà Tây, một số thiết bị được sử dụng để tạo môi trường riêng cho hai pho tượng. Đây là những hiện vật đầu tiên của di tích có được chế độ bảo quản riêng.

Sâu bọ, nấm mốc là sản phẩm đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Sâu bọ và nấm mốc có thể tàn phá hoàn toàn một di tích, những yếu tố này không thiếu trong bất cứ di tích nào của Việt Nam, hàng ngày, hàng giờ đe dọa sự tồn tại của di tích.

Cần nói thêm đôi chút về vấn đề quản lý, hiện vật để tại bảo tàng thì được một đội ngũ cán bộ có chuyên môn, có phương tiện kỹ thuật nhất định và có nhà kho được khống chế nhiệt độ, độ ẩm thực hiện chế độ bảo quản thường xuyên. Nhưng hiện vật tại di tích thì phần nhiều là do các cụ cao tuổi ở địa phương trông nom, họ không có bất cứ phương tiện và kiến thức bảo quản hiện đại nào để bảo quản hiện vật. Bảo quản hiện vật gỗ ở di tích trở nên khó khăn và phức tạp hơn bao giờ hết.

3. Những hư hỏng thường thấy ở các hiện vật.

Sự phá hủy của sâu bọ (bao gồm cả những vi khuẩn) là hư hỏng dễ nhận thấy nhất ở các hiện vật. Có rất nhiều loại sâu bọ có thể khoan các lỗ nhỏ lên bề mặt của hiện vật hoặc đào những đường hầm ăn sâu vào bên trong hiện vật, những lỗ và đường hầm này làm cho gỗ bị rỗng và trở nên mềm xốp như những miếng bọt biển. 

Sự phá hủy của nấm mốc không “ầm ĩ” như sâu bọ nhưng nguy hiểm cũng không kém. Nấm mốc có thể phá hủy màu sắc của các hiện vật. Đáng ngại hơn là cùng với các yếu tố khí hậu khác, nấm mốc cũng góp phần làm bong tróc các lớp sơn thếp của hiện vật. Mà như mội người đều biết rằng, đa phần các hiện vật gỗ của di tích đều được sơn son thiếp vàng.

Các hiện vật gỗ có kích thước lớn thường được làm từ nhiều khối gỗ ghép lại. Chúng được ghép lại với nhau bởi các mộng, sau đó dùng sơn ta trộn với mạt cưa hoặc bột đá để gắn các khe hở của các chỗ nối với nhau, cuối cùng là những phần việc của sơn thếp. Nếu không vì một lý do nào đó, hiện vật bị hư hỏng thì người ta khó mà hình dung được việc lắp ghép tài tình của những người thợ xưa. Những pho tượng bị bong tróc sơn, các vết ghép bị nứt rời (thân tượng và bệ tượng hoặc tay tượng và thân tượng tách rời nhau) làm cho hiện vật bị biến dạng cũng là hiện tượng thường thấy ở nhiều di tích hiện nay.

4. Những nguyên tắc trong bảo quản, tu bổ các hiện vật gỗ ở di tích.

Một là, ưu tiên sử dụng vật liệu truyền thống và phương pháp truyền thống. Những người làm công tác bảo tồn ở Nhật Bản thường khuyến cáo sử dụng vật liệu truyền thống và phương pháp truyền thống trong bảo quản và tu bổ di tích nói chung cũng như hiện vật của di tích nói riêng. Việc sử dụng sơn ta trong bảo quản và tu bổ các hiện vật gỗ mặc nhiên đã được thừa nhận và áp dụng ở Việt Nam vì đây cũng là một nghề truyền thống có lịch sử lâu đời của nhân dân ta. Việc sử dụng các chất keo tổng hợp dường như vẫn còn khá xa lạ, mặc dù người ta đã có nhiều  đánh giá khả quan về các loại keo tổng hợp này nhất là dùng để xử lý những vết rỗ bề mặt và đặc biệt là lấp kín các hố sâu bên trong hiện vật. Nhưng tóm lại, việc sử dụng vật liệu truyền thống và phương pháp truyền thống cần khẳng định là ưu tiên hàng đầu khi lựa chọn, quyết định phương án bảo quản, tu bổ.

Hai là, việc bảo quản, tu bổ cần bảo đảm giữ gìn hình dáng ban đầu của hiện vật. Hình dáng ban đầu ở đây được hiểu là hình dáng xác thực nhất của hiện vật mà ta biết được. Trường hợp tu bổ pho tượng Vũ Khắc Trường ở chùa Đậu - Hà Tây là minh chứng cụ thể cho nguyên tắc này. Chùa Đậu có hai pho tượng là hai nhà sư (tượng táng), tượng nhà sư Vũ Khắc Minh vẫn giữ được hình dáng ban đầu, khi tu bổ chủ yếu là xử lý các vết nứt. Tượng nhà sư Vũ Khắc Trường đã bị biến dạng do một trận lụt cách ngày nay trên trăm năm, tượng bị ngập nước và hư hỏng. Dân làng cho sửa chữa lại những đã làm sai lệch hình dáng pho tượng này rất nhiều. Có một số ý kiến muốn sử dụng phương pháp của Ghêraximốp trả lại cho pho tượng hình dáng ban đầu. Nhưng một số ý kiến khác cho rằng nếu có trả lại hình dáng ban đầu thì có thể chỉ là phần đầu tượng còn phần thân thì chúng ta không thể biết được nó như thế nào trước khi trần lụt làm tượng hư hỏng. Do đó, phương án được lựa chọn là phương án chỉ sửa chữa, gia cố những chỗ hư hỏng (hỏng đâu sửa đấy), không thêm hoặc bớt bất cứ chi tiết nào. Chấp nhận những sai sót về mặt giải phẫu, tức là chấp nhận hình dáng của pho tượng mà chúng ta biết được trước khi bảo quản, tu bổ. Nhưng thay đổi về hình dáng của pho tượng cũng chính là một phần của lịch sử mà chúng ta cần tôn trọng, gìn giữ. 

Ba là, việc bảo quản, tu bổ cần bảo đảm giữ gìn màu sắc ban đầu của hiện vật. Nấm mốc làm biến dạng từng ngày, từng giờ màu sắc của hiện vật. Nhưng cũng cần kể tới một nguyên nhân chủ quan khác. Trong tư duy dân giã, giữ gìn màu sắc của hiện vật ít được chú ý. Với sự phát triển của kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều người tham gia đóng góp tu bổ di tích. Một số người đã chọn việc sơn thếp lại các pho tượng để công đức. Các loại hóa chất tổng hợp được sử dụng khá nhiều và trong hầu hết các trường hợp đã phá hủy màu sắc nguyên thủy có tới hai ba trăm năm tuổi. Khi tiến hành son son các cột của di tích đền vua Đinh, vua Lê - Ninh Bình, có ý kiến muốn thay thế các bức cốn vẽ màu ngũ sắc bằng sơn son thiếp vàng cho đồng bộ với tổng thể di tích nhưng việc đó đã không được chấp nhận. Bởi vì, những bức cốn vẽ màu ngũ sắc đã được vẽ  trên trăm năm nay, là một phần của lịch sử kiến trúc - nghệ thuật của di tích nên cũng cần phải được gìn giữ mãi mãi.

Bốn là, việc bảo quản, tu bổ hiện vật phải thực hiện trên cơ sở điều tra khoa học kỹ lưỡng. Khi điều tra phải trả lời được các thông số về loại vật liệu làm nên hiện vật, chất kết dính là gì, phương pháp kết dính. Tình trạng hư hỏng và nguyên nhân gây hư hỏng. Khi chúng ta đánh giá và tìm đúng nguyên nhân thì chúng ta sẽ đề xuất phương án bảo quản, tu bổ chính xác. Mặt khác cần làm rõ là quá trình bảo quản, tu bổ đã thực hiện trước đây. Những dữ liệu này có thể tìm thấy trong thư tịch hoặc qua điều tra khoa học.

5. Phác thảo những bước đi cơ bản cho việc bảo quản, tu bổ hiện vật gỗ.

Trừ trường hợp sửa chữa những hư hỏng rất nhỏ, không đáng kể của hiện vật thì khi tiến hành bảo quản, tu bổ cần thao tác theo một số bước sau:

- Ghi chép chi tiết hiện trạng của hiện vật, tìm nguyên nhân hư hỏng.

- Làm vệ sinh hiện vật, sử lý sâu bọ bằng các phương pháp cơ học hoặc xông hơi hóa chất.

- Chụp ảnh (nếu có điều kiện quay phim) toàn bộ quá trình tháo dỡ, nghiên cứu những bộ phận bị hư hỏng. Việc tháo dỡ các bộ phận hư hỏng cần bảo đảm an toàn cho các bộ phận khác.

- Sắp xếp, phân loại các bộ phận của hiện vật: cái nào là nguyên gốc; cái nào mới được bổ sung; đâu là lớp sơn gốc.v.v..

- Đề xuất phương án bảo quản, tu bổ cho từng bộ phận và cho toàn bộ hiện vật.

- Thực hiện phương án bảo quản, tu bổ. Kỹ thuật nào chưa từng sử dụng thì không được áp dụng khi chưa qua thử nghiệm.

- Hoàn thiện bề mặt và màu sắc của hiện vật.

Toàn bộ quá trình bảo quản, tu bổ nói trên phải được thực hiện theo một kế hoạch chặt chẽ. Tư liệu hóa toàn bộ quá trình thực hiện kế hoạch này là yêu cầu bắt buộc để sau này những người làm công tác bảo tồn có thể nghiên cứu xử lý hư hỏng của chính hiện vật đó và tìm kiếm những phương pháp mới tốt hơn.

Trên đây chủ yếu là những suy nghĩ mang nặng tính chất kỹ thuật liên quan đến nguyên tắc, quy trình bảo quản, tu bổ hiện vật gỗ ở di tích. Áp dụng những điều này vào thực tế hiện nay còn là chặng đường dài của hoạt động bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam. Nhưng trước khi lý thuyết được gắn chặt với thực tế, chúng tôi mong mỏi được trao đổi ở đây với các đồng nghiệp để làm sáng rõ và hoàn thiện các quy trình, các kỹ thuật bảo quản, tu bổ nhằm hạn chế đến mức tối đa những sai sót trong quá trình thực hiện./.

(Tham luận Hội thảo khoa học "Bảo quản hiện vật chất hữu cơ tại bảo tàng và di tích", ngày 28 - 29/12/2004, tại Hà Nội)

Nguyễn Thế Hùng
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.